Hội Chấn thương chỉnh hình (CTCH) thành phố Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 1994, trải qua 4 nhiệm kỳ ban chấp hành. Hội đã hoạt động đều đặn, phát triển cả về chất và lượng.
THÀNH TỰU KHOA HỌC KỸ THUẬT:
Các thành tựu đạt được là nhờ sự hợp tác đa ngành và sự tiến bộ của các chuyên khoa liên quan như hình ảnh y học, gây mê hồi sức, giải phẫu bệnh, phục hồi chức năng…, gồm:
- Xây dựng được 1 thể thống nhất: Hội CTCH - Bộ môn CTCH - Bệnh viện (BV CTCH, Khoa CTCH BV Chợ Rẫy…) hình thành thế 3 chân vạc bảo đảm thành công cho các hoạt động của Hội.
- Góp phần xây dựng được màng lưới chấn thương chỉnh hình tại thành phố và các tỉnh miền Trung và miền Nam, dân y cũng như quân y. Hầu hết các bệnh viện đa khoa tỉnh hiện nay đều đã thành lập Khoa Chấn Thương Chỉnh hình riêng hoặc kết hợp với Ngoại thần kinh. Các bác sĩ của Khoa tối thiểu đều đã được đào tạo căn bản về CTCH, nhiều người đã tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II, cấp I, thạc sĩ… và tích cực tham gia vào các hội nghị, hội thảo do Hội tổ chức.
- Hầu hết các bác sĩ hội viên đều giải quyết được các vấn đề chấn thương chỉnh hình chung, cơ bản, cấp cứu
- Hình thành được nhiều trung tâm, đơn vị rất mạnh về chuyên ngành như bệnh học cơ-xương-khớp, bướu xương-phần mềm, chỉnh hình nhi, cột sống, phẫu thuật ít xâm nhập, phẫu thuật nội soi, thay khớp nhân tạo, vi phẫu tạo hình, y học thể dục-thể thao…. Một số trong những chuyên ngành nầy thuộc loại mạnh nhất cả nước và bắt kịp phần nào so với các nước trong khu vực và quốc tế.
Những thành tựu khoa học kỹ thuật nổi bật bao gồm:
Cấp cứu:
1. Cấp cứu thành công các trường hợp đa thương nặng, sốc chấn thương, tắc mạch do mỡ; mổ và kết hợp xương cấp cứu các gãy xương nặng và nhiều vị trí ngay trong đêm, nhất là các gãy hở, gãy phạm khớp.
2. Sử dụng màn tăng sáng trong nắn xương-bó bột hoặc kết hợp xương (trong, ngoài)…
3. Đóng đinh nội tủy kín có chốt các gãy thân xương nhiều mảnh, không vững có hoặc không sử dụng màn tăng sáng
4. Bất động ngoài điều trị các gãy xương chậu
5. Kết hợp xương bên trong cho các gãy hở độ I, II, IIIA
6. Nắn xương, bó bột hoặc cố định bằng kim các gãy xương trên 2 lồi cầu ở trẻ em
Chấn thương chung:
1. Kết hợp xương theo nguyên tắc A.O.
2. Bất động, kết hợp xương mềm dẽo sử dụng các nẹp tre cải tiến, nẹp sinh học, nẹp tổ hợp carbon
3. Phẫu thuật ít xâm lấn: kết hợp xương tối thiểu, không mở ổ gãy, đường mổ nhỏ…
Bệnh lý, Chỉnh hình:
1. Phẫu thuật bảo tồn chi các bướu ác giáp biên của xương
2. Phẫu thuật bảo tồn chi các ung thư xương và phần mềm
3. Điều trị nâng cao chất lượng sống các ung thư di căn xương
4. Điều trị bệnh loạn sản sợi của xương
5. Phẫu thuật kéo dài chi, kéo dài cal xương trong điều trị các khuyết hỗng xương do bẩm sinh, di chứng sốt bại liệt, chấn thương, viêm, sau cắt khối ung thư hoặc vì lý do thẩm mỹ
6. Phát hiện, điều trị bảo tồn và phẫu thuật các bàn chân khoèo
7. Phát hiện, điều trị bảo tồn và phẫu thuật các trật khớp háng bẩm sinh
8. Điều trị các di chứng sốt bại liệt
9. Phát hiện, điều trị bảo tồn và phẫu thuật các vẹo cột sống; sử dụng các dụng cụ nắn chỉnh cột sống trong không gian 3 chiều
10. Phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo (trước, sau) của gối sử dụng gân-xương bánh chè, gân cơ chân ngỗng…
Phẫu thuật thay khớp nhân tạo, nội soi:
1. Thay khớp háng (đơn cực, lưỡng cực, toàn phần) có hoặc không có xi măng
2. Thay khớp gối (bán phần, toàn phần)
3. Thay khớp vai (bán phần, toàn phần)
4. Thay khớp bàn đốt, liên đốt các ngón tay
5. Phẫu thuật nội soi khớp gối để tái tạo dây chằng bị đứt, điều trị tổn thương sụn chêm, lấy dị vật, sinh thiết màng khớp…
6. Phẫu thuật nội soi khớp vai
7. Phẫu thuật nội soi cột sống…
Vi phẫu thuật:
1. Khâu nối thành công các ngón tay, chi bị đứt rời
2. Phẫu thuật cái hóa sử dụng các ngón tay hoặc ngón chân số II
3. Phẫu thuật khâu nối thần kinh, điều trị các tổn thương của mạng thần kinh cánh tay
4. Phẫu thuật chuyển gân, các vạt da, vạt da cân-cơ trong điều trị các khuyết hỗng phần mềm hoặc phục hồi chức năng các phần chi bị liệt
NHẬN ĐỊNH VỀ NGÀNH CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM:
Ngành Chấn thương chỉnh hình hình thành từ hơn 50 năm qua, đã trưởng thành và trui rèn qua 2 cuộc chiến tranh và đạt nhiều thành quả to lớn đáng tự hào. Ngày nay, ngành CTCH phát triển:
- Trong bối cảnh đất nước hòa bình, đang công nghiệp hóa-hiện đại hóa để bắt kịp và hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới trên tinh thần độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Với tình hình tai nạn giao thông, lao động, sinh hoạt… ngày càng tăng, tổn thương càng nặng, phối hợp và đa dạng.
Mặt mạnh/ thuận lợi:
1. có truyền thống yêu nước, tự lực cánh sinh, cần cù, khắc phục khó khăn.
2. lượng bệnh nhân đông, đủ và đa dạng là điều kiện tốt để bác sĩ rèn luyện, nâng cao tay nghề.
3. có tinh thần cầu tiến, ham học nâng cao kiến thức, kỹ năng.
4. sáng tạo, tự chế tạo hoặc cải tiến dụng cụ để điều trị bệnh.
5. đã thành lập Khoa CTCH trong các bệnh viện đa khoa tỉnh.
6. nhiều thầy đầu ngành có tâm-đức-tài đang tiếp tục sự nghiệp "trồng người"
7. Hội Chấn thương Chỉnh hình Việt Nam và một số Hội địa phương (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, quân đội…) và nhiều Hội chuyên ngành sâu hoặc liên quan (phẫu thuật bàn tay, cột sống, chỉnh hình nhi, phục hồi chức năng, y học thể dục thể thao…) hoạt động tốt.
8. hình thành được nhiều trung tâm, nhiều khoa, nhiều đơn vị rất mạnh về chuyên ngành sâu: vi phẫu tạo hình, cột sống, chỉnh hình nhi, bệnh học ung bướu, thay khớp, nội soi…
9. khả năng bắt chước tốt, nắm bắt kiến thức, nhất là thực hành nhanh.
10. kinh tế xã hội Việt Nam phát triển tạo điều kiện cho bác sĩ CTCH có thu nhập cao hơn, ổn định cuộc sống hơn, nhờ vậy yên tâm lo cho khoa học hơn.
Mặt yếu/ bất lợi:
1. nhiều nguồn đào tạo khác nhau không cùng một chuẩn mực, còn nhiều lỗ trống về kiến thức, kỹ năng
2. chịu ảnh hưởng nặng của nền y tế chưa phát triển: mạnh về thực hành, yếu về khoa học cơ bản và y học cơ sở
3. còn chú trọng nhiều đến "chấn thương", yếu và xem nhẹ lĩnh vực "bệnh lý"
4. phát triển ngành chấn thương chỉnh hình thiếu rộng khắp, trình độ không đồng đều, thậm chí nhiều khi chênh lệch rất xa
5. đi chuyên khoa CTCH sớm, đôi khi rất sâu, nhưng thiếu cơ bản về phẫu thuật tổng quát và các chuyên khoa liên quan
6. trong nghiên cứu, nặng về tổng kết lâm sàng, yếu về phương pháp nghiên cứu, không hoặc gần như không nghiên cứu về khoa học cơ bản như sinh cơ học, ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong điều trị…. Về phương pháp luận thì giỏi về phân tích nhưng yếu khả năng tổng hợp.
7. đa số hội viên trình độ ngoại ngữ còn thấp, khó lòng theo học chính quy ở trường y khoa các nước tiên tiến và hạn chế trong việc giao lưu với bạn bè nước ngoài
8. hoạt động của nhiều Hội chưa mạnh, chưa đều, thiếu sự đoàn kết một lòng. Tiếng nói của Hội trong khu vực và trên quốc tế còn rất yếu.
9. mối liên hệ giữa các cơ sở điều trị, giữa các hội viên trong cả nước còn mang tính chất quan hệ cá nhân, chưa gắn bó rộng rãi, vững chắc.
10. tài chính của cá nhân và của Hội còn kém nên hoạt động khoa học gặp khó khăn, còn ngại đi học xa "sợ bỏ phòng mạch", ít có cơ hội đi tu nghiệp hoặc tham dự hội nghị ở nước ngoài. Điều nầy nếu có thì chỉ tập trung ở các thành phố lớn và hầu hết là nhờ tài trợ của đoàn thể, công ty hay của những nhà hảo tâm nào đó.
Nói chung trình độ của ngành CTCH Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và thế giới tuy có nhiều tiến bộ và một số mặt bắt kịp trình độ các nước.
Biện pháp đề xuất:
1. Thống nhất chương trình đào tạo chuyên ngành CTCH trong các trường đại học y khoa cùng một chuẩn mức, một trình độ. Nên đào tạo chuyên khoa ngay sau khi tốt nghiệp đại học và chỉ có một bậc duy nhất là "chuyên khoa CTCH", không chia thành 2 bậc như hiện nay, thi tốt nghiệp phải đạt các định mức tối thiểu theo quy định chung của cả nước tương tự như "American Board" của Mỹ hoặc "Doctorat d' état" của nội trú Pháp. Phát huy và nâng cao vai trò của Hội trong việc đào tạo chuyên ngành CTCH.
2. Nâng cao trình độ ngoại ngữ, nhất là về khả năng giao tiếp. Tuyển sinh vào đại học y khoa cần có môn ngoại ngữ.
3. Nâng cao khả năng tư duy, tự đào tạo, tránh tình trạng bắt chước mà không hiểu rõ ngọn nguồn về kiến thức, về nguyên tắc, cơ chế…. Rèn luyện năng lực nghiên cứu khoa học, học và nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học
4. Học và sử dụng được các kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới nhằm làm tốt công tác chẩn đoán và điều trị, phục vụ tốt nhất cho người bệnh
5. Đẩy mạnh các nghiên cứu cơ bản về cấu trúc vật liệu, sinh cơ học, di truyền …
6. Tiếp tục thành lập Khoa CTCH trong các bệnh viện công và tư và đẩy mạnh hoạt động điều trị, nghiên cứu, quan hệ đối tác của các khoa nầy.
7. Thành lập các trung tâm, đơn vị chuyên sâu như phẫu thuật thay khớp-nội soi, phẫu thuật ít xâm nhập, phẫu thuật bàn tay, phẫu thuật vi phẫu-tạo hình, phẫu thuật bảo tồn chi, phẫu thuật chỉnh hình các biến dạng…. Mở thường xuyên các lớp tập huấn với sự tham gia của các chuyên gia quốc tế để chuyển giao công nghệ mới cho các địa phương.
8. Tập hợp lại đội ngũ, đẩy mạnh các hoạt động của Hội Việt Nam và các Hội địa phương, cơ sở…cùng hợp tác, hỗ trợ cho công tác đào tạo, nghiên cứu, điều trị. Hình thành các chi hội, câu lạc bộ ở các cơ sở điều trị. Phát huy tinh thần học hỏi lẫn nhau, du học trong nước, du học "qua mạng", hội chẩn và điều trị từ xa và du học nước ngoài ngắn hoặc dài ngày. Đẩy mạnh quan hệ đối tác của Hội Việt Nam với Hội các nước trong khu vực và thế giới.
9. Tăng cường hoạt động tuyến, hình thành các "mạng lưới CTCH" ở từ khu vực, phổ biến đến cơ sở, quận huyện. Thành lập trang web CTCH.
10. Có chế độ thích hợp nâng cao thu nhập của đội ngũ bác sĩ chuyên khoa CTCH.
Chủ Tịch Hội
PGS TS LÊ CHÍ DŨNG