Trang chủ Giới thiệu Thông tin Chuyên khoa Diễn đàn Liên hệ
Cột sốngThứ Sáu, 18/08/17 23:15:30 (GMT+7) 

Phẫu thuật tạo hình bảng sống mới - Hirabayashi cải biên - Néo ép đỉnh mấu gaivafo ốc khối bên cho bệnh tủy sống cổ
24/11/2007 09:09 (GMT+7)

Các tác giả trình bày một phương pháp Hirabayashi cải biên điều trị phẫu thuật cho bệnh lý tủy sống cổ. Tạo hình bảng sống là kỹ thuật rất hữu ích để giải ép các trường hợp bệnh lý tủy sống cổ do chèn ép bởi các nguyên nhân: thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cổ, cốt hóa dây chằng dọc sau v..v…

Kỹ thuật hàng đầu trên thế giới như Kurokawa, Itoh đã được thực hiện với kết quả tốt tại Khoa Cột Sống A từ năm 1995. Tuy nhiên, chúng tôi đã sớm nhận ra những bất thuận lợi:

- đường mổ tàn phá cơ, dây chằng liên và trên gai, đỉnh mấu gai; hay cắt đỉnh mấu gai C2 rồi đính lại sau phẫu thuật.
- Phải gọt ghép mào chậu thành hình thang cân không phải lúc nào cũng dễ thực hiện.
- Dùng khối banh mấu gai bằng gốm sứ thì bệnh nhân phải trả tiền khá mắc cho mỗi ca mổ. đa số bệnh nhân không trả nổi.
- Kỹ thuật Itoh đòi hỏi phải cột ghép nhiều tầng bằng chỉ tơ, khó làm lổ cột vào mấu khớp. Để tránh những bất lợi này chúng tôi đã giới thiệu phương pháp mới với ốc và chỉ thép đặt vào khối bên rồi néo chỉ thép vào đỉnh mấu gai – một kỹ thuật cải biên từ kỹ thuật Hirabayashi.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tiền cứu.

Chẩn đoán:

Dựa vào thăm khám lâm sàng tỉ mỉ, kết hợp với các khảo sát bằng kỹ thuật hình ảnh học: XQ thường qui kỹ thuật số, X Quang Cắt Lớp Điện Toán, Hình Ảnh Cộng Hưởng Từ được thực hiện cho tất cả các ca.

Chỉ định phẫu thuật:

- Bệnh lý tủy sống cổ do hẹp ống sống cổ nhiều tầng (ba hay bốn tầng).

- Bệnh lý tủy sống cổ do hẹp ống sống cổ một hay hai tầng có kèm theo hẹp ống sống cổ bẩm sinh.

Kỹ thuật:

Phẫu thuật tạo hình bảng sống rộng được thực hiện qua bốn tầng C3, C4, C5, C6: 1- Bộc lộ khối bên bên đặt ốc, cẩn thận không phá bao mấu khớp. 2-Bộc lộ nơi nối bảng sống- mấu khớp bên kia. 3- Dùng khoan mài đính kim cương mài qua hai vỏ xương phía nào trên lâm sàng thấy sự chèn ép tủy sống cổ nặng nhất. 4- Mài qua một vỏ xương phía bên kia nơi nối bảng sống và khối mấu khớp. 5- Ốc được đặt từng con vào khối bên, điểm đặt giống Roy Camille, nhưng theo kỹ thuật riêng của chúng tôi, bắt thẳng ra trước cho C3, C4, C5 và hướng ra ngoài 10 độ ở C6. Cột chỉ thép vào đỉnh từng mấu gai và dở bảng sống lên khoảng 10mm-15mm. Chiều dài ốc là 14mm hay ít hơn. Đường kính ốc thay đổi tùy ca 3,5 mm, 4 mm, 4,5 mm.

Tóm tắt dữ liệu và kết quả:

72 ca đã được phẫu thuật từ 21/11/2002 đến 1/12/2005 tại Khoa Cột Sống A, BV CTCH TP. HCM.

- Nam: 57
- Nữ: 15
- Tuổi TB: 53 (34-87)

Thoát vị đĩa đệm cổ: 51. Thoái hóa cột sống cổ: 5. Cốt hóa dây chằng dọc sau: 7. Thoát vị đĩa đệm kèm thoái hóa cột sống cổ: 1. Cốt hóa dây chằng dọc sau kèm dày dây chằng vàng: 1. Thoái hóa cột sống kèm dày dây chằng vàng: 1. Thoái hóa cột sống kèm lồi đĩa đệm: 1. Thoái hóa cột sống kèm lồi đĩa đệm và dày dây chằng vàng: 1. Dày dây chằng vàng kèm lồi đĩa đệm: 1. Thoát vị đĩa đệm cổ kèm cốt hóa dây chằng vàng:1. Thoát vị đĩa đệm cổ kèm cốt hóa dây chằng dọc sau và dây chằng vàng:1. Tầng bệnh: một tầng 34, hai tầng 23, ba tầng: 6, bốn tầng: 8, năm tầng: 1. Hẹp ống sống bẩm sinh: 64 ca. Tổn thương tủy sống trên HACHT thấy trên 52 ca: 19 tổn thương ngang C3-C4, 22 ngang C4-C5, 25 ngang C5-C6 và 3 ngang C6-C7. Dấu Lhermite: 10 ca. Liệt vận động chi dưới: 69 ca. Liệt vận động chi trên: 69 ca. Rối loạn cơ vòng bọng đái: 21. Rối loạn cảm giác chi trên: 67. Rối loạn cảm giác chi dưới: 60. Rối loạn cảm giác thân: 43.

JOA (tính trên 40 ca đủ số liệu theo dõi trung bình 16,4 tháng, ít nhất một tháng và lâu nhất 39 tháng): JOA trước mổ là 9,9 (4-14), JOA sau mổ là 13 (6-15), JOA sau theo dõi lâu dài: 14,6 (11-17). Tỉ lệ phục hồi ngay sau mổ theo JOA: 56%. Tỉ lệ phục hồi sau theo dõi lâu dài JOA: 67%. Thời gian khởi bệnh: 19 tháng (1-85). Thời gian mổ TB: 142 phút (95-220). Lượng máu mất TB: 293 (80-1600). Chỉ hai ca phải truyền máu: một 500 ml và một 750 ml. Phẫu thuật tạo hình bảng sống VVT cho 70 ca và hai ca thực hiện thêm nẹp ốc khối bên hay giải ép và hàn xương lối trước. Chỉ số Torg trung bình thay đổi theo thứ tự trước và sau mổ: ngang C3 là 55%- 83%, ngang C4 là 66%-87%, ngang C5 là 65%-91%, ngang C6 là 64%-79%. Thời gian theo dõi trung bình cho 40 ca đủ dữ liệu: 16,4 tháng (1-39). Một ca tử vong sau hai năm bệnh diển biến nặng. Bốn ca diển biến nặng thêm sau một năm. Một ca than mỏi cổ. Không ca nào than đau cổ sau mổ. Hai ca liệt rễ một rễ C5 và một rễ C6. Một ca phục hồi sau hai tháng.

BÀN LUẬN

Tương quan giữa nghiên cứu và kiến thức hiện nay:

Đây là kỹ thuật đơn giản với ít bóc tách cơ, xương và dây chằng nhất, dễ thực hiện, thời gian huấn luyện cho các Bác sĩ trẻ ngắn, cho kết quả tốt.

KẾT LUẬN

Ý nghĩa của công trình nghiên cứu:

Công trình nguyên thủy của Việt Nam này đã đóng góp thêm một chọn lựa nữa vào các kỹ thuật kinh điển như Kurokawa, Itoh, hoàn toàn khả thi cho các bệnh nhân ở các nước đang phát triển.

Võ Văn Thành, Ngô Minh Lý, Phạm Ngọc Công, Võ Ngọc Thiên Ân
(Hội nghị Thường Niên 2006)

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in       
Công ty Eisai
Công ty Stryker
Novartis
Công ty Pfizer
Công ty BHC
VietSing
Công ty MSD
Thành An - Hà Nội
Berlin-Chemie
Johnson & Johnson
Cong ty Xuan Vy
Trang chủ | Giới thiệu | Thông tin | Chuyên khoa | Sản phẩm mới | Diễn đàn | Liên hệ Số lượt truy cập:

© 2007-2017  Hội Chấn Thương Chỉnh Hình Tp. Hồ Chí Minh.
Thiết kế & phát triển bởi Sacomtec Corp.